Ông ngồi trên những nấm mộ cát, đôi tay run run vun từng nắm đất, rồi chỉ tay vào một trong số ngôi mộ nơi có di ảnh của con mình: “Chúng là con của tui đó, tất cả đều vĩnh viễn lìa xa cuộc đời vì chất độc da cam. Chôn con xong, tôi chỉ có một ao ước là xây cho các con những nấm mồ bằng gạch, vậy mà số phận cứ như đùa. Bao nhiêu năm qua, giấc mơ ấy vẫn dang dở”…

Những năm tháng hồi ức

Đặt chân đến Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình là gặp ngay cát trắng. Cát ràn rạt khắp nơi, cát len trong nhà, trong vườn, cát dung dưỡng những cánh đồng bồi bãi, cát ôm ấp những phận người lam lũ. Có thể nói, người dân Quảng Ninh “sống cùng cát, chết vùi trong cát”.

Chiến tranh đã lùi xa hơn 40 năm, màu xanh thiên nhiên đã hàn gắn trên mỗi cành cây ngọn cỏ, nhưng người cựu binh ở thôn Hà Thiệp, xã Võ Ninh, huyện Quảng Ninh, vẫn một niềm đau đáu, day dứt. Ngày nào cũng như ngày nào, ông ra khu mộ thắp nhang cho 12 đứa con tội nghiệp nằm sâu dưới lòng đất lạnh. Mỗi lần như thế, ông lại ngồi bệt xuống nền cát nói vô thức một mình, hoặc có khi cầu nguyện cho các con siêu thoát và hồi nhớ lại câu chuyện của đời mình.

Bấy giờ, năm 1972, cuộc chiến đấu của dân tộc đang ở vào giai đoạn khốc liệt, cần phải dốc toàn lực lượng giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Như bao chàng trai khác, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, chàng thanh niên độ mười tám đôi mươi Đố Đức Địu tạm biệt gia đình lên đường nhập ngũ. Và chỉ sau ba tháng huấn luyện ông được điều động vào đại đội chiến đấu trên chiến trường Mỏ Tàu, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Hai cô con gái Đỗ Thị Bình và Đỗ Thị Nga, tương đối bình thường, là niềm an ủi, hi vọng cuối cùng của cuộc đời ngươi lính Đỗ Đức Địu.
Hai cô con gái Đỗ Thị Bình và Đỗ Thị Nga, tương đối bình thường, là niềm an ủi, hi vọng cuối cùng của cuộc đời ngươi lính Đỗ Đức Địu.

“Chúng tôi cứ hành quân xuyên qua những tán rừng già, uống nước suối mà đi. Có hôm, cả đại đội đang tức tốc hành quân, thì nghe máy bay Mỹ gầm rú trên bầu trời, ngước nhìn lên thấy một vệt màu trắng như những bụi mưa rơi lác đác trên những tán cây, đọng lại như những hạt sương buổi sớm. Mấy ai ngờ rằng đó là chất độc chúng rải để triệt hạ rừng, không cho bộ đội ẩn nấp”, ông Địu hồi tưởng lại.

Sau ngày giải phóng, ông Địu phục viên về quê lấy vợ rồi lại khoác ba lô trở lại đơn vị. Ông cũng chẳng hay biết mình đã bị ngấm chất diệt cỏ kịch độc kia, để rồi cả một đời ông phải ngậm ngùi nhìn những đứa con vô tội phải lìa xa cuộc đời. Từ cô con gái đầu lòng chỉ mấy ngày sau khi chào đời bỗng dưng có biểu hiện lạ, liên tục khóc thét lên, co rúm người sùi bọt mép rồi mất trên tay bà Nức – vợ ông. Nghe tin động trời, ông Địu từ đơn vị xa xôi viết vội lá thư động viên vợ, để bà đỡ buồn vì mất đứa con đầu lòng.

Năm 1981, để vớt vát lại niềm hi vọng, ông bà sinh thêm đứa con thứ hai. Khi đó ông Địu đã được phục viên, sinh sống tại quê hương. Ông đặt tên con là Đỗ Thị Bình, với cái ý nghĩa đất nước hòa bình, không còn chiến tranh, không còn máu lửa. Một năm sau nữa, bà Nức lại có bầu đứa con thứ ba với mong muốn thêm thằng con trai cho “có nếp, có tẻ”. Thế nhưng chẳng đứa nào “thương” ông bà mà ở lại, lặng lẽ chúng lần lượt “rủ nhau” về với cát bụi. Nỗi đau chồng lên nỗi đau, khiến bà Nức như hóa điên, có lúc chạy ra ngoài đường la hét, khóc than: “Trả con cho tôi. Con con ơi, các con ở đâu…”.

Những những lần sinh nở không thành công, vừa ám ảnh bà Nức vừa khiến bà cảm thấy có lỗi với chồng, với họ hàng đôi bên bố mẹ. Dù sức khỏe ngày càng cạn kiệt, nhưng ông bà cứ gắng gượng hết lần này đến lần khác. Nhưng những đứa con tiếp theo cũng chung số phận nghiệt ngã. “Đứa nào sinh ra cũng khỏe mạnh, xinh xẻo, lành lặn, nhưng đều lần lượt bỏ vợ chồng tôi mà đi. Thật là bất hạnh. Đến giờ, tôi không nhớ hết ngày sinh, tháng đẻ, cũng như ngày ra đi của từng đứa. Vì thế tôi phải lấy cuốn sổ ghi lại để biết mà cúng giỗ”, ông Địu nghẹt ngào nói.

Dưới cát là nước mắt

Bước chân của người đàn ông ngoài bảy mươi tuổi xiêu vẹo trên cát. Để nhớ tên và ngày tháng cúng giỗ, ông Địu phải đánh số thứ tự trên từng ngôi mộ từ một đến mười. Có tháng, ông làm giỗ ba lần cúng con.

Mỗi lần chôn trên đồi cát, ông Địu đều giữ kín chuyện không cho láng giềng biết vì ông vẫn âm thầm hi vọng những đứa con lành lặn sẽ ra đời. Nhưng cuối cùng cũng không giấu được mãi. Anh em họ hàng bên gia đình ông Địu nghi ngờ là do lỗi tại bà Nức. Dù thương vợ, nhưng ông Địu cũng bỏ nhà đi tìm hạnh phúc mới với hi vọng kiếm được cậu con trai nối dõi tông đường.

Thế nhưng sau gần ba năm chung sống với người vợ mới, ông trở về về bên bà Nức đau khổ thú thật: “Tôi đã ở bên người đàn bà khác, nuôi hi vọng sinh một thằng con trai lành lặn nhưng rốt cuộc con vẫn không ở lại. Lỗi là do tôi chứ không phải do mình”. Đau khổ và tủi hổ, bà Nức vẫn giang rộng vòng tay, tiếp tục nuôi hi vọng mong manh vào những lần sinh nở kế tiếp. “Hồi đó, tôi cũng không biết ông nhà tôi bị nhiễm chất độc da cam. Mãi tận sau này, khi ra Hà Nội khám mới vỡ lẽ”, bà Nức chia sẻ.

Sau khi biết mình bị nhiễm chất độc da cam, vợ chồng bà càng thêm nâng niu người con thứ hai tên là Đỗ Thị Bình. Lần thứ mười bốn bà Nức mang thai, niềm vui vỡ òa khi Đỗ Thị Hằng ra đời lành lặn. Một năm sau đó, bà Nức sinh người con thứ mười lăm đặt tên là Đỗ Thị Nga, sức khỏe yếu từ khi mới lọt lòng.

Quá đời người vất vả, ông Địu cặm cụi cùng vợ lao động cần mẫn để nuôi con nên người, dù nỗi đau da cam bòn rút sức lực, tiền bạc… nhưng ông vẫn ấm lòng: Lương hưu của tôi cộng thêm cật lực làm ba sào rưỡi ruộng cũng không đủ thuốc thang. Giật gấu vá vai lắm mới tồn tại được. Đồng đội ghé thăm thấy ngôi nhà rách, đã cùng nhau dựng lại ngôi nhà ba gian, nền lát đá hoa cho các cháu lê lết khỏi bẩn. Có lẽ chưa ai làm nhà lâu như tôi, đặt móng nhà từ năm 1979, đến đầu năm 2004 mới hoàn thành… Giờ tôi ở làng cát làm nông dân và chăm sóc những đứa con còn sống, đã mất. Rứa là vui rồi!”



Nguồn: Ngày mới Online

Chia sẻ.