FDI xếp vào tốp đầu trong ASEAN

Những năm đại dịch Covid-19 tàn phá, nước ta vẫn thu hút nguồn vốn FDI ổn định ở mức khá cao: Năm 2020 tổng vốn FDI đăng kí, dự án cấp mới, điều chỉnh vốn và góp vốn, mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài đạt 28,53 tỉ USD (bằng 75% năm 2019), vốn thực hiện đạt 19,96 tỉ USD. Năm 2021 đạt 20,35 tỉ USD và năm 2022 đạt 22,4 tỉ USD.

Dòng vốn FDI kéo theo sự phát triển của các thành phần kinh tế khác

Trong 139 quốc gia, vùng lãnh thổ, đứng đầu là Hàn Quốc đầu tư 9.200 dự án đạt mức 74,7 tỉ USD. Trong đó, đầu tư vào tỉnh Bắc Ninh (10,12 tỉ USD), chiếm 16,2% tổng số vốn; Thái Nguyên (7,28 tỉ USD), chiếm 11,6% tổng vốn. Thứ hai là Nhật Bản có 4.935 dự án, tổng vốn đầu tư 64,5 tỉ USD (luỹ kế) hiện diện ở 57/63 tỉnh, thành phố. Singapore có 2.866 dự án còn hiệu lực, quy mô 23,5 triệu USD/dự án, cao hơn quy mô trung bình của các dự án FDI (12,1 triệu USD) với 3 siêu dự án là Nhà máy điện khí tự nhiên hoá lỏng (LNG) Bạc Liêu (4 tỉ USD), Khu nghỉ dưỡng Hội An, tỉnh Quảng Nam (4 tỉ USD) và nhà máy điện LNG Long An 1 và 2 (3,12 tỉ USD). Hồng Kông là nhà đầu tư lớn với tổng số vốn đạt 27,83 tỉ USD. Tiếp đến là Trung Quốc có 3.325 dự án, tổng số vốn 21,337 tỉ USD. Hà Lan là đối tác lớn nhất trong EU đầu tư gần 409 dự án với tổng số vốn 13,55 tỉ USD, chiếm 50% tổng vốn FDI của cả châu Âu vào Việt Nam. Đan Mạch chỉ riêng năm 2021 có 145 dự án, vốn đầu tư 446,17 triệu USD. Năm 2022, Đan Mạch là nhà đầu tư đứng thứ 3, riêng quý I có 2 dự án Lego quy mô 1 tỉ USD.

Vị thế quan trọng của đầu tư nước ngoài

Đầu tư nước ngoài là dòng vốn quan trọng, nguồn lực bổ sung vốn, công nghệ, năng lực quản lí, khả năng kinh doanh, đóng góp trực tiếp vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo động lực phát triển sản xuất, thúc đẩy mạnh xuất nhập khẩu, gia tăng thặng dư cán cân thương mại và tăng trưởng kinh tế, đóng góp tích cực vào cân đối vĩ mô, giải quyết việc làm, xoá đói giảm nghèo… trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế.

Trung bình hằng năm, FDI đóng góp khoảng trên 20% vào GDP của cả nước. Giá trị xuất khẩu hàng hóa của khu vực FDI từ chỗ chiếm 27% (năm 1995) nay lên tới 72% kim ngạch xuất khẩu vào năm 2022, cũng là năm kim ngạch nhập khẩu chiếm gần 65% của cả nước, đã 4 năm đảo ngược cán cân thương mại của Việt Nam về kết quả xuất siêu hàng chục tỉ USD mỗi năm. Đặc biệt, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là nhân tố quan trọng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại, xây dựng môi trường sản xuất, kinh doanh năng động, lành mạnh làm gia tăng các sản phẩm chứa hàm lượng chất xám cao, nâng tầm giá trị hàng hoá nông sản xuất khẩu…

Về lao động, FDI góp phần đáng kể tạo việc làm. Theo kết quả “điều tra Lao động – Việc làm” năm 2019 của Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, khu vực FDI tạo việc làm cho hơn 3,8 triệu lao động, chiếm 7,2% – 8% tổng lực lượng lao động cả nước (55 triệu người), chiếm hơn 15% trong tổng lao động làm công ăn lương (25,3 triệu người). FDI còn gián tiếp làm cho hàng triệu lao động trong các ngành dịch vụ, công nghiệp phụ trợ trong chuỗi cung ứng hàng hóa cho các doanh nghiệp FDI. Mức lương bình quân của người lao động FDI là 8,2 triệu đồng/người/tháng. Trong khi đó lao động khu vực Nhà nước bình quân 7,7 triệu đồng/người/tháng và khu vực ngoài Nhà nước 6,4 triệu đồng/người/tháng. Kinh tế FDI cũng góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (57 – 60% số doanh nghiệp thực hiện chương trình đào tạo cho người lao động). Từ dòng vốn FDI cũng thúc đẩy phát triển khoa học – công nghệ, áp dụng công nghệ tiên tiến trong sản xuất, quản trị doanh nghiệp; đặc biệt trong một số ngành như điện tử, công nghiệp phần mềm, công nghiệp sinh học, chuyển giao công nghệ xanh, thực hiện đầy đủ trách nhiệm xã hội, xây dựng và nâng cao nhận thức về kinh tế xanh, tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, bảo vệ môi trường…

Tuy nhiên, kinh tế FDI cũng có những tồn tại cần giải quyết. Đó là nhiều sự cố môi trường xảy ra do hoạt động xả thải của một số doanh nghiệp như ở Formosa (Hà Tĩnh), Vedan (Đồng Nai),… Trong quá trình thu hút FDI, ô nhiễm có khả năng “di cư” từ các nước phát triển sang các quốc gia đang phát triển, ảnh hưởng đến hệ sinh thái tự nhiên, sức khoẻ con người, thậm chí cả văn hóa, rủi ro trong kinh doanh.



Nguồn: Ngày mới Online

Chia sẻ.